Tellurium, ký hiệu Te, có số hiệu nguyên tử 52 và thuộc nhóm 16, chu kỳ 5. Cấu hình electron nguyên tử là [Kr]4d105s25p4.
Tellurium, ký hiệu Te, có số hiệu nguyên tử 52 và thuộc nhóm 16, chu kỳ 5. Cấu hình electron nguyên tử là [Kr]4d105s25p4. Nguyên tố có những quan hệ hóa học với selenium và sulfur nhưng cũng có những đặc trưng chất rắn riêng. Nhiều ứng dụng quan trọng sử dụng telluride hoặc hợp kim chứa Te, thay vì chỉ dựa trên tính chất của một mẫu tellurium nguyên chất.
Vị trí nhóm 16 giúp định hướng về số electron hóa trị và những trạng thái oxi hóa có thể gặp. Tuy nhiên, khi chuyển từ nguyên tử sang chất rắn, cách liên kết và tổ chức mạng quyết định các đặc trưng điện, quang và cơ học. Tính chất của oxygen phân tử không thể được dùng như một mô hình đầy đủ cho tellurium tinh thể.
Trong hợp chất, các dạng telluride và những hệ chứa Te với oxygen có hành vi khác nhau. Kết quả phân tích tổng tellurium chưa cho biết nguyên tố nằm ở dạng nào hoặc có khả năng hòa tan đến đâu. Muốn diễn giải tính năng hoặc tác động môi trường, cần đi từ thành phần đến cấu trúc và điều kiện tiếp xúc.
CdTe là một ví dụ về bán dẫn hợp chất được sử dụng trong những công nghệ quang điện thích hợp. Khả năng hấp thụ ánh sáng và tạo hạt tải thuộc cấu trúc điện tử của chất rắn. Nó không phải phép cộng trực tiếp tính chất của cadmium kim loại với tellurium nguyên chất được đặt cạnh nhau.
Trong thiết bị, các lớp tiếp xúc và tiếp giáp giúp thu nhận điện tích thay vì để chúng tái hợp hoàn toàn. Hiệu suất vì thế phụ thuộc cả chất lượng màng, khuyết tật và thiết kế điện cực. Một mẫu có đúng công thức CdTe chưa chắc có thể hoạt động như một tấm pin quang điện hoàn chỉnh.
Những hệ vật liệu như bismuth telluride có vai trò trong công nghệ nhiệt điện. Khi tồn tại chênh lệch nhiệt độ và cấu trúc phù hợp, hệ có thể tạo một đáp ứng điện; ngược lại, dòng điện có thể được khai thác để vận chuyển nhiệt trong thiết bị. Đây là quá trình chuyển đổi năng lượng, không phải tạo năng lượng từ hư không.
Vật liệu cần cân bằng khả năng dẫn điện, truyền nhiệt và hệ số nhiệt điện. Tăng một đặc tính riêng lẻ không luôn cải thiện toàn bộ hiệu quả. Ở cấp thiết bị, điện trở tiếp xúc và khả năng trao đổi nhiệt với môi trường có thể làm kết quả khác đáng kể dữ liệu đo trên một mẫu vật liệu nhỏ.
Tellurium được sử dụng như thành phần bổ sung trong những hệ hợp kim phù hợp để điều chỉnh tính gia công hoặc những đặc trưng khác. Lượng nguyên tố nhỏ có thể làm thay đổi cách các pha phân bố và quá trình hình thành phoi. Không nên đánh giá tác dụng chỉ bằng tỷ lệ phần trăm mà bỏ qua tổ chức vi mô.
Khả năng gia công tốt hơn cũng không tự đồng nghĩa độ bền hoặc tính dẫn điện tốt hơn. Mỗi ứng dụng có những tiêu chí cần cân bằng. Một vật liệu dùng cho chi tiết được cắt gọt hàng loạt có thể có yêu cầu khác vật liệu được chọn cho truyền điện hoặc làm việc lâu dài trong môi trường ăn mòn.
Một nguồn tellurium thương mại quan trọng liên quan những dòng vật chất của quá trình tinh luyện copper, trong đó có bùn anode. Nguyên tố được tập trung cùng nhiều thành phần khác và cần quy trình tách thích hợp. Sự có mặt trong dòng phụ không có nghĩa có thể thu hồi toàn bộ bằng một bước cơ học đơn giản.
Vì nguồn cung đi kèm chuỗi sản xuất khác, lượng sản phẩm thu được không chỉ do hàm lượng Te trong vỏ Trái Đất. Công nghệ thu hồi, nhu cầu và việc quản lý các dòng chất thải đều có ảnh hưởng. Đánh giá tài nguyên cần phân biệt lượng hiện diện, lượng có thể khai thác và lượng thực sự được thu hồi.
Đối với vật liệu chứa tellurium, tính năng kỹ thuật không thay thế đánh giá an toàn. Bột, hợp chất hòa tan và linh kiện kín có những đường tiếp xúc khác nhau. Dữ liệu của một telluride dùng trong thiết bị không thể chuyển thành kết luận chung rằng mọi chất chứa Te đều có cùng mức nguy hại hoặc có thể xử lý như vật liệu thông thường.