Rhenium, ký hiệu Re, có số hiệu nguyên tử 75 và thuộc nhóm 7, chu kỳ 6. Nguyên tử có cấu hình [Xe]4f145d56s2.
Rhenium, ký hiệu Re, có số hiệu nguyên tử 75 và thuộc nhóm 7, chu kỳ 6. Nguyên tử có cấu hình [Xe]4f145d56s2. Kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao và xuất hiện trong những hợp kim làm việc ở điều kiện nhiệt khắt khe. Giá trị kỹ thuật của rhenium không chỉ nằm ở việc bản thân nguyên tố khó nóng chảy mà còn ở cách nó ảnh hưởng tổ chức và quá trình biến dạng của hợp kim.
Một chi tiết chịu tải ở nhiệt độ cao có thể tiếp tục biến dạng theo thời gian dù tải không tăng. Hiện tượng từ biến làm tuổi thọ vật liệu trở thành bài toán khác với việc đo độ bền kéo nhanh ở nhiệt độ phòng. Những cấu kiện turbine cần được đánh giá trong bối cảnh tải, nhiệt và thời gian làm việc thực tế.
Rhenium được dùng trong một số siêu hợp kim nền nickel để điều chỉnh những quá trình ảnh hưởng khả năng chịu từ biến. Tuy nhiên, một nhận xét thuận lợi không có nghĩa thêm Re luôn cải thiện mọi điều kiện thử. Cấu trúc pha, các nguyên tố khác và lịch sử chế tạo quyết định tác động cụ thể.
Những cánh turbine đơn tinh thể được thiết kế để tránh những giới hạn gắn với biên hạt theo cách phù hợp. Tuy vậy, bên trong vẫn có tổ chức pha, khuyết tật mạng và những quá trình biến đổi trong vận hành. Không thể coi đơn tinh thể là một khối lý tưởng có mọi nguyên tử luôn đứng yên tại vị trí hoàn hảo.
Trong hệ nhiều thành phần, phân bố rhenium giữa các vùng vật liệu và sự khuếch tán có ý nghĩa đối với tính năng. Thành phần trung bình của một mẫu không mô tả hết cấu trúc. Vì vậy, đánh giá hợp kim cần cả phép đo hóa học, quan sát vi mô và thử cơ học ở điều kiện liên quan.
Rhenium có thể được hợp kim hóa với tungsten hoặc molybdenum trong những ứng dụng thích hợp. Mục tiêu có thể liên quan độ dẻo, đặc tính nhiệt hoặc đáp ứng cơ học, chứ không đơn giản là làm nhiệt độ nóng chảy tăng. Một hệ hợp kim phải được lựa chọn theo toàn bộ tập yêu cầu của thiết bị.
Phản ứng bề mặt và môi trường khí vẫn quan trọng khi làm việc nóng. Dữ liệu trong chân không hoặc môi trường bảo vệ không thể được áp nguyên vẹn cho mọi điều kiện không khí. Vật liệu chưa nóng chảy vẫn có thể bị mất chức năng vì biến dạng, phản ứng hoặc thay đổi cấu trúc.
Rhenium có nhiều trạng thái oxi hóa, trong đó +7 xuất hiện ở dạng perrhenate quen thuộc. Tính chất của những ion hoặc oxide không giống kim loại nguyên chất. Trong một hệ xúc tác, trạng thái hoạt động có thể khác dạng hóa chất ban đầu được dùng để chuẩn bị vật liệu.
Các ứng dụng xúc tác chứa Re cần được đánh giá theo chất mang, thành phần đi cùng và môi trường phản ứng. Độ chọn lọc hay khả năng chịu tạp chất không phải thuộc tính tuyệt đối của mọi hợp chất rhenium. Một kết quả tốt trong phản ứng này không chứng minh cùng vật liệu sẽ phù hợp cho mọi quá trình hydrogen hóa hoặc chuyển hóa hydrocarbon.
Rhenium thường được thu hồi trong chuỗi xử lý những nguyên liệu liên quan molybdenum và copper. Tổng lượng có trong quặng và phần thực sự thu được phụ thuộc các dòng vật chất của quy trình. Một nguyên tố phân bố ở hàm lượng thấp có thể được tập trung vào dòng phụ, nhưng cần công nghệ tách và tinh chế thích hợp.
Thành phần tự nhiên có đồng vị Re-187 phóng xạ sống rất lâu, nên cách gọi toàn bộ rhenium không phóng xạ là không chính xác tuyệt đối. Đặc trưng đó cần được phân biệt với các nguồn đồng vị được tạo cho mục đích riêng. Trong thảo luận vật liệu, dạng hợp kim, thành phần đồng vị và điều kiện sử dụng là những cấp thông tin khác nhau không nên gộp làm một.