Krypton, ký hiệu Kr, có số hiệu nguyên tử 36 và kết thúc chu kỳ 4 ở nhóm 18. Nguyên tử có cấu hình electron [Ar]3d104s24p6.
Krypton, ký hiệu Kr, có số hiệu nguyên tử 36 và kết thúc chu kỳ 4 ở nhóm 18. Nguyên tử có cấu hình electron [Ar]3d104s24p6. Trong điều kiện thường, krypton là khí không màu, không mùi và rất ít phản ứng hóa học. Dù hiện diện trong khí quyển với hàm lượng nhỏ, nguyên tố có ý nghĩa trong nguồn sáng, nghiên cứu quang phổ và lịch sử của hệ đơn vị đo lường.
Krypton có lớp electron ngoài đã đầy, giúp giải thích độ bền hóa học trong nhiều điều kiện. Tuy nhiên, cách nói khí hiếm không bao giờ tạo hợp chất là quá tuyệt đối. Những điều kiện thích hợp và đối tác có tính oxi hóa mạnh có thể mở ra hóa học mà quan sát ở nhiệt độ phòng trong không khí không thể hiện.
Krypton difluoride, KrF2, là một ví dụ về hợp chất của krypton. Sự có mặt của hợp chất không làm mất ý nghĩa của xu hướng trơ, mà xác định rõ phạm vi áp dụng của nó. Trong hóa học, những quy tắc có điều kiện thường hữu ích hơn một mệnh đề tuyệt đối được áp dụng cho mọi trạng thái vật chất.
Khi được cung cấp năng lượng trong một hệ phóng điện, nguyên tử hoặc ion krypton có thể phát bức xạ qua những chuyển mức điện tử. Màu và phổ phát xạ không phải màu sẵn có của khí chưa kích thích. Chúng phản ánh các chênh lệch mức năng lượng trong những hạt đang tham gia quá trình.
Do đó, nhận diện nguyên tố bằng phổ cung cấp thông tin khác với quan sát một nguồn sáng có màu trắng hoặc màu nhạt. Áp suất, dòng điện và thành phần khí ảnh hưởng phổ của thiết bị. Một đèn có chứa krypton vẫn phải được đánh giá ở cấp nguồn sáng hoàn chỉnh, không chỉ bằng cấu hình electron của nguyên tử.
Theo NIST, từ năm 1960 đến năm 1983, định nghĩa mét được gắn với một số xác định bước sóng của bức xạ từ nguyên tử krypton-86. Cách tiếp cận này chuyển chuẩn độ dài từ một vật mẫu sang một hiện tượng nguyên tử có khả năng tái lập trong điều kiện được quy định.
Từ năm 1983, định nghĩa mét chuyển sang quãng đường ánh sáng đi trong chân không trong một khoảng thời gian xác định. Vì vậy, tài liệu nói krypton-86 đang là định nghĩa hiện hành của mét là không đúng. Vai trò của nguyên tố nằm ở một giai đoạn lịch sử đo lường và quá trình nâng cao độ chính xác của chuẩn.
Các đồng vị krypton có cùng số proton nhưng khác số neutron. Sự khác nhau về khối lượng và cấu trúc hạt nhân có thể quan trọng với nghiên cứu phổ hoặc ứng dụng hạt nhân. Một mô tả chỉ ghi krypton chưa đủ để thay thế thông tin đồng vị trong một phép đo đòi hỏi độ chính xác cao.
Không phải mọi đồng vị krypton đều có cùng độ bền hạt nhân. Do đó, khí krypton tự nhiên và một nguồn chứa đồng vị phóng xạ cần được nhận diện riêng. Tính trơ hóa học không loại bỏ các đặc trưng bức xạ, bởi phản ứng electron và biến đổi hạt nhân thuộc hai cấp hiện tượng khác nhau.
Krypton được dùng trong một số hệ chiếu sáng, đèn chớp và thiết bị quang học thích hợp. Lợi ích của khí phải được xét cùng nhiệt độ, áp suất và thiết kế nguồn. Một tên môi chất không xác định duy nhất hiệu suất hoặc phổ phát xạ của mọi thiết bị sử dụng nó.
Khí có thể được thu hồi trong những chuỗi phân tách không khí công nghiệp. Hàm lượng nhỏ trong khí quyển làm công nghệ tập trung và tinh chế có ý nghĩa lớn đối với nguồn cung. Khi sử dụng, ngoài tính chất hóa học còn phải xét bình nén, khả năng chiếm chỗ oxygen và điều kiện vận hành của thiết bị phóng điện hoặc lạnh sâu.