49
In
Indium
114.82
[Kr] 4d10 5s2 5p1

Nguyên tố Indium (In)

Indium, ký hiệu In, có số hiệu nguyên tử 49 và thuộc nhóm 13, chu kỳ 5. Cấu hình electron nguyên tử là [Kr]4d105s25p1.

Số nguyên tử 49
Khối lượng 114.82
Nhóm13
Chu kỳ 5
Phân loại Post transition metal (Á kim)
Cấu hình electron[Kr] 4d10 5s2 5p1

Tổng quan về Indium

Indium: kim loại mềm phía sau điện cực trong suốt và bán dẫn quang điện

Indium, ký hiệu In, có số hiệu nguyên tử 49 và thuộc nhóm 13, chu kỳ 5. Cấu hình electron nguyên tử là [Kr]4d105s25p1. Đơn chất là kim loại mềm, có ánh bạc và nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhiều kim loại kết cấu. Trong công nghệ, indium thường phát huy giá trị qua những lớp oxide dẫn điện hoặc vật liệu bán dẫn hợp chất, không chỉ qua dạng kim loại khối.

Một nguyên tố của nhóm 13 với nhiều dạng hóa học

Trạng thái oxi hóa +3 phổ biến trong nhiều hợp chất indium, trong khi +1 cũng có ý nghĩa ở những hệ phù hợp. Sự thay đổi trạng thái cần được xét cùng cấu trúc và môi trường liên kết. Việc nguyên tử có ba electron hóa trị không tự làm mọi hợp chất biểu hiện cùng độ bền hoặc cùng kiểu phản ứng.

Đối với chất rắn, cấu trúc pha và khuyết tật còn quyết định nhiều tính năng. Một phép phân tích cho biết tỷ lệ In chưa cho biết nó nằm trong oxide, mạng bán dẫn hay pha kim loại. Đó là lý do dữ liệu thành phần cần được kết hợp với thông tin cấu trúc khi đánh giá vật liệu công nghệ.

ITO dẫn điện mà vẫn truyền ánh sáng như thế nào?

Indium tin oxide, thường viết ITO, là hệ oxide được sử dụng trong những điện cực trong suốt. Vật liệu kết hợp khả năng dẫn điện với độ truyền quang thích hợp trong vùng phổ mong muốn. Điều này không mâu thuẫn với việc indium kim loại khối có ánh bạc và không trong như một tấm kính.

Đặc tính của ITO phụ thuộc thành phần, nồng độ hạt tải và cách chế tạo màng. Tăng khả năng dẫn không luôn duy trì nguyên vẹn độ truyền quang ở mọi bước sóng. Chiều dày màng cũng tạo sự đánh đổi: lớp dày có thể giảm điện trở tấm nhưng làm thay đổi hấp thụ hoặc phản xạ của hệ.

Điện cực là một phần của thiết bị, không phải toàn bộ màn hình

Trong thiết bị cảm ứng hoặc quang điện, lớp chứa indium có thể đảm nhiệm việc dẫn điện mà vẫn cho ánh sáng đi qua. Chức năng này khác với chức năng phát sáng, chuyển đổi ánh sáng hoặc xử lý tín hiệu của những thành phần khác. Vì vậy, nói màn hình dùng indium không có nghĩa indium tự tạo mọi màu được quan sát.

Độ bám, độ nhám và sự tương thích với nền có thể ảnh hưởng hiệu suất. Một màng có điện trở thấp trong phép đo riêng chưa chắc đạt độ bền khi thiết bị bị uốn, gia nhiệt hoặc sử dụng lâu dài. Thiết kế cần xét cả giao diện giữa các lớp, thay vì chỉ một thông số của oxide.

Indium phosphide và những bán dẫn hợp chất

Những hợp chất như indium phosphide hoặc indium antimonide có tính chất điện tử và quang học riêng. Chúng không phải indium kim loại được trộn cơ học với một nguyên tố khác. Mạng liên kết tạo ra cấu trúc vùng năng lượng mới, là cơ sở của các ứng dụng linh kiện thích hợp.

Việc lựa chọn một chất bán dẫn cần gắn với bước sóng, nhiệt độ và chức năng cần thực hiện. Một lợi thế ở hệ thu hồng ngoại không tự chứng minh vật liệu tốt hơn mọi chất khác ở ứng dụng phát sáng hoặc điện tử công suất. Không có một bảng xếp hạng duy nhất áp dụng cho mọi họ bán dẫn chứa In.

Nguồn thu hồi và yêu cầu vật liệu tinh khiết

Indium thường được thu hồi như sản phẩm đi kèm trong những chuỗi xử lý nguồn quặng chứa zinc. Lượng nguyên tố trong một nguồn và khả năng cung cấp sản phẩm tinh khiết không phải cùng một đại lượng. Công nghệ tách và mức độ thu hồi trong từng dòng vật chất có thể ảnh hưởng hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Vật liệu điện tử còn đòi hỏi kiểm soát tạp chất theo mục đích cụ thể. Tên indium tinh khiết trên mô tả chung chưa thay thế những thông số của cấp sản phẩm. Khi thao tác hoặc xử lý màng, bột và phế liệu, dạng hóa học cùng đường phát tán cần được xem xét riêng, thay vì suy mọi sản phẩm chứa indium có mức tiếp xúc giống kim loại mềm ban đầu.

Tài liệu tham khảo

Thông báo giỏ hàng

Xem giỏ hàng