Germanium, ký hiệu Ge, có số hiệu nguyên tử 32 và thuộc nhóm 14, chu kỳ 4. Cấu hình electron nguyên tử là [Ar]3d104s24p2.
Germanium, ký hiệu Ge, có số hiệu nguyên tử 32 và thuộc nhóm 14, chu kỳ 4. Cấu hình electron nguyên tử là [Ar]3d104s24p2. Nguyên tố có ánh kim nhưng không nên được hiểu như một kim loại dẫn điện thông thường. Tính bán dẫn và tương tác với bức xạ làm germanium có vị trí riêng trong lịch sử điện tử cũng như những công nghệ quang học chuyên biệt.
Germanium và silicon đều có bốn electron hóa trị trong mô hình nguyên tử, nhưng cấu trúc vùng năng lượng và đáp ứng vật liệu không giống nhau. Trong chất rắn, cách electron được tổ chức trên toàn mạng tạo ra những đặc tính mà việc đếm electron lớp ngoài chưa thể mô tả đầy đủ.
Vì vậy, một linh kiện được thiết kế cho silicon không thể tự động chuyển sang germanium mà giữ nguyên mọi điều kiện. Điện trở, dòng rò, tiếp xúc và yêu cầu nhiệt có thể thay đổi. Việc hai nguyên tố đứng cùng nhóm chỉ cung cấp cơ sở so sánh hóa học, không phải bảo đảm khả năng thay thế trong một mạch điện cụ thể.
Germanium được sử dụng trong những transistor của giai đoạn đầu phát triển điện tử bán dẫn. Để điều khiển tính dẫn, vật liệu có thể được pha tạp bằng các nguyên tố phù hợp. Sự có mặt có chủ ý của một lượng tạp nhỏ khác hẳn việc mẫu vô tình lẫn những chất chưa được kiểm soát.
Mục tiêu không đơn giản là loại bỏ mọi nguyên tố khác rồi xem vật liệu hoàn hảo. Trong một thiết bị, cần tạo chính xác những vùng có tính chất khác nhau và giữ các khuyết tật không mong muốn ở mức phù hợp. Chất lượng tinh thể và cách chế tạo tiếp giáp có thể quan trọng tương đương thành phần hóa học tổng thể.
Germanium được dùng trong những bộ phận quang học hoạt động ở vùng hồng ngoại phù hợp. Độ truyền qua của vật liệu phụ thuộc bước sóng, nên hình ảnh quan sát dưới ánh sáng nhìn thấy không đủ để kết luận khả năng sử dụng trong hồng ngoại. Một mẫu không trong đối với mắt người vẫn có thể truyền bức xạ trong một vùng phổ khác.
Tuy vậy, không phải mọi bước sóng hồng ngoại đều được truyền như nhau. Tạp chất, chiều dày, nhiệt độ và lớp phủ bề mặt ảnh hưởng đáp ứng thực tế. Khi chọn một thấu kính germanium, dữ liệu theo vùng phổ và điều kiện làm việc cần được ưu tiên hơn một nhãn chung là vật liệu truyền hồng ngoại.
Khả năng tạo thấu kính liên quan chiết suất, nhưng chiết suất cao cũng làm việc kiểm soát phản xạ bề mặt trở nên quan trọng. Một hệ quang không chỉ cần ánh sáng đi qua khối vật liệu, mà còn phải hạn chế mất mát và những tín hiệu phản xạ không mong muốn tại các bề mặt.
Lớp phủ và hình dạng linh kiện được thiết kế cho điều kiện xác định. Thông số đo trên mẫu trần không nhất thiết giống hiệu suất của linh kiện đã phủ trong một thiết bị. Phân biệt dữ liệu vật liệu với dữ liệu hệ quang giúp tránh những so sánh không cùng cơ sở giữa germanium, thủy tinh oxide và các vật liệu khác.
Trong hóa học germanium, các trạng thái +2 và +4 có thể được quan tâm. Germanium dioxide không có tính chất giống nguyên tố tinh khiết; nó tham gia những ứng dụng và quá trình xử lý riêng. Một kết quả phân tích phát hiện Ge chưa cho biết mẫu gồm đơn chất, oxide hay một hợp chất khác.
Germanium thường được thu hồi từ những nguồn nguyên liệu mà nó đi kèm các thành phần khác. Việc tách và tinh chế phải xử lý những khác biệt hóa học giữa các nguyên tố trong nguồn. Đối với thông tin quảng bá về germanium và sức khỏe, tính chất bán dẫn hay ứng dụng quang học không tạo bằng chứng cho lợi ích khi sử dụng một sản phẩm chứa nguyên tố này.